All Stories

Quy định Tình nguyện viên UNESCO-CEP

QUY ĐỊNH TÌNH NGUYỆN VIÊN UNESCO-CEP

Chương I - QUY ĐỊNH CHUNG

Điều 1. Phạm vi điều chỉnh và đối tượng áp dụng

1. Quy chế này quy định về tiêu chuẩn, quyền lợi, nghĩa vụ của tình nguyện viên UNESCO-CEP; tổ chức và hoạt động của tình nguyện viên UNESCO-CEP; quản lý, tôn vinh tình nguyện viên và các đội tình nguyện viên UNESCO-CEP.

2. Quy chế này được thực hiện thống nhất và áp dụng đối với tình nguyện viênUNESCO-CEP.

Điều 2. Hoạt động tình nguyện tại UNESCO-CEP

1. Là hoạt động tự nguyện, không vụ lợi nhằm hỗ trợ thực hiện các hoạt động xã hội do UNESCO-CEP tổ chức;

Chương II - TIÊU CHUẨN, QUYỀN LỢI, NGHĨA VỤ

Điều 3. Tiêu chuẩn tình nguyện viên UNESCO-CEP

1. Tự nguyện tham gia các hoạt động do UNESCO-CEP tổ chức

2. Có khả năng, điều kiện tham gia các hoạt động của trung tâm, đáp ứng các nhiệm vụ cụ thể của công việc tình nguyện viên đăng ký hoạt động;

3. Tuân thủ luật pháp Việt Nam và các quy định tại Quy chế này.

Điều 4. Quyền lợi của tình nguyện viên UNESCO-CEP

1. Được phân công nhiệm vụ phù hợp với nguyện vọng, điều kiện và khả năng;

2. Được bồi dưỡng kiến thức, kỹ năng làm việc, được chia sẻ thông tin vàđóng góp ý kiến cho các hoạt động của trung tâm;

3. Được cấp đồng phục tình nguyện viên UNESCO-CEP khi tham gia các hoạt động của trung tâm;

4. Được hỗ trợ các điều kiện, trang thiết bị cần thiết khi tham gia hoạt động theo khả năng thực tế của Trung tâm;

5. Được tôn vinh, khen thưởng hoặc đề nghị khen thưởng khi có thành tích, đóng góp xuất sắc cho các hoạt động của UNESCO-CEP;

Điều 5. Nghĩa vụ của tình nguyện viên UNESCO-CEP

1. Chấp hành sự quản lý, phân công nhiệm vụ của cấp quản lý trực tiếp và các quy định tại Quy chế này;

2. Tuyên truyền, bảo vệ và nâng cao uy tín của UNESCO-CEP;

3. Tham gia các hoạt động do UNESCO-CEP tổ chức; vận động đóng góp và trực tiếp đóng góp công sức, trí tuệ, uy tín, kỹ năng, kinh phí, sản phẩm cho các hoạt động của Trung tâm theo khả năng và điều kiện của mình;

4. Sinh hoạt định kỳ theo nhóm; cung cấp thông tin cho cấp quản lý trực tiếp về nhân thân, về việc đảm nhận nhiệm vụ, và kết quả thực hiện nhiệm vụ được giao;

5. Rèn luyện kiến thức, kỹ năng chuyên môn để đáp ứng tốt nhất các nhiệm vụ được giao; phối hợp trong và ngoài lực lượng của Trung tâm khi thực hiện nhiệm vụ tình nguyện; đề xuất với cấp quản lý những sáng kiến, giải pháp cho hoạt động của Trung tâm;

6. Có mặt kịp thời, đáp ứng nhanh nhất các hoạt động Trung tâm tổ chức;

7. Tham gia xây dựng kế hoạch hoạt động của nhóm;

Điều 6. Công nhận và rút tên tình nguyện viên UNESCO-CEP

1. Người có nguyện vọng tham gia hoạt động tình nguyện của UNESCO-CEP viết phiếu đăng ký tham gia làm tình nguyện viên.

2. Cấp quản lý trực tiếp xem xét, quyết định công nhận, phân công nhiệm vụ và nơi sinh hoạt cụ thể, trao “Thẻ tình nguyện viên UNESCO-CEP” cho tình nguyện viên.

3. Tình nguyện viên UNESCO-CEP khi không có điều kiện và khả năng tham gia các hoạt động của Trung tâm thường xuyên thì báo cáo với cấp quản trực tiếp và trả lại thẻ tình nguyện viên.

Quy định Tổ chức & Quản lý Dự án

Các định nghĩa

Trung tâm❞ – Trung tâm UNESCO Văn Hoá Giáo Dục và Đào Tạo (The UNESCO for Culture and Education-UNESCO-CEP).

Dự án❞ – Là  các dự án do Trung tâm quản lý và điều hành. Nội dung dự án năm trong chức năng, phạm vi hoạt động của Trung tâm, được quy định tại Quy Chế Hoạt Động do Liên Hiệp các Hội UNESCO phê duyệt. Trung tâm có thể có một số dự án độc lập chạy cùng một thời điểm. Nhân sự có thể tham gia một hay một số dự án cùng một lúc, tuỳ khả năng.

Nhóm / Nhóm trưởng❞ – Team / Team Leader (LT): Là nhân sự làm việc cho một nội dung đặc biệt của dự án. Một nhóm thường có từ 3 – 5 thành viên. Thành viên của team có thể là thành viên của nhóm hoặc độc lập, tuỳ theo dự án. Ban LT có thể do GL hoặc PM trực tiếp quản lý.

Đội / Đội Trưởng❞ – Group / Group Leader (GL): Là nhân sự của Trung tâm được giao nhiệm vụ trong dự án hoặc là tình nguyện viên tham gia và đảm nhận nhiệm vụ của dự án. Một đội có thể  từ 10 – 100 thành viên. GL do PM trực tiếp quản lý và giao nhiệm vụ. GL có thể tham gia các cuộc họp chung cùng với PMU và Trung tâm.

 ❝Quản lý dự án❞ – Project Manager (PM) – Là nhân sự của Trung tâm được giao nhiệm vụ trong dự án hoặc là tình nguyện viên tham gia và đảm nhận nhiệm vụ của dự án. PM do Giám Đốc Trung Tâm bổ nhiệm và trực tiếp quản lý và giao nhiệm vụ.

Giám Đốc dự án❞ – Project  Director (PD) – Là người đã từng giữ nhiệm vụ PM trong một dự án của Trung tâm tối thiểu 3 năm và chứng tỏ được năng lực điều hành, khả năng và trách nhiệm của mình đối với công việc được giao. PD do Giám Đốc Trung Tâm bổ nhiệm và trực tiếp quản lý.

Ban Quản Lý Dự Án❞ – Project Managment Unit (PMU) – Là những bộ phận cơ bản để điều hành một dự án. PMU tối thiểu gồm 3 bộ phận / nhóm (team):
-     Nhóm nội dung:  Xây dựng ý tưởng, lên kế hoạch và các chương trình hoạt động cụ thể cho dự án.
-     Nhóm quản trị hành chính: Thư ký dự án, hành chính – hỗ trợ các hoạt động hành chính của dự án.
-     Nhóm tài chính: kế toán, thủ quỹ. Nhóm tài chính có trách nhiệm hỗ trợ PM trong công tác lập hợp đồng, quản lý thu – chi, lập chứng từ để nộp cho kế toán trung tâm theo đúng kỳ hạn báo cáo thuế. Báo cáo quyết toán khi kết thúc dự án.

Tuỳ vào từng dự án mà số lượng Nhóm có thể tăng hay giảm. Mỗi nhóm sẽ có ❝nhóm trưởng❞ – Team Leader – TL là người do PM tuyển chọn, bổ nhiệm, giao nhiệm vụ và quản lý.

1. Vai trò của trung tâm trong công tác quản lý

a)     Trung tâm là đơn vị chịu trách nhiệm trước cơ quan quản lý nhà nước, chính quyền và pháp luật về mọi hoạt động của dự án;
b)     Là đơn vị có quyền quyết định với việc tiếp tục hay ngừng dự án vì lý do nội bộ của tổ chức hoặc các lý do khách quan khác; Trong trường hợp phải ngừng dự án phải xét trên cơ sở đã hoàn thành kế hoạch của dự án và đảm bảo không ảnh hưởng đến quyền lợi của đối tác cùng tham gia dự án.
c)     Có quyền bổ nhiệm / bãi nhiệm Quản lý Dự Án / Nhân sự Ban Quản Lý Dự Án theo yêu cầu công việc / năng lực cán bộ hoặc theo kết quả dự án;
d)     Là đơn vị duyệt kế hoạch và mọi chương trình hoạt động của dự án; Quản lý dự Án triển khai dự án theo kế hoạch được duyệt;

2. Vai trò và trách nhiệm của PM/DM trong công tác quản lý

a)     Thay mặt trung tâm quản lý dự án; điều phối các hoạt động của dự án. Có quyền đề xuất nhân sự cho Ban Quản Lý Dự Án để Ban Giám Đốc bổ nhiệm;
b)     Lên chương trình, kế hoạch của dự án trong từng năm và đề xuất lên Trung tâm. Kế hoạch chỉ được triển khai khi có phê duyệt chính thức của trung tâm;
c)     Phối hợp với BGĐ Trung tâm / Bộ phận Tài Chính Kế Toán của trung tâm trong việc lập kế hoạch chi phí của dự án / kinh phí tài trợ và thu – chi của dự án. Đảm bảo mọi khoản thu – chi hợp lý, hợp lệ và đầy đủ chứng từ theo luật định. Bảo đảm chế độ tài chính minh bạch, rõ ràng và tuyệt đối không để ra mâu thuẫn / sai sót / nhầm lẫn về công tác tài chính;
d)     Chịu trách nhiệm trước BGD Trung Tâm và pháp luật về mọi hoạt động của mình khi hoạt động theo pháp nhân của Trung tâm.

3. Vai trò của và trách nhiệm của các ❝Trưởng nhóm❞ – Group Leaders (GL) của dự án

a)     Các GL là thành viên của PMU:  được BGĐ Trung tâm bổ nhiệm theo nhiệm kỳ của dự án; có quyền tham gia xây dựng nội dung, chương trình hoạt động của dự án; tham gia quản lý dự án; GL có thể là nhân viên của Trung tâm hoặc TNV tham gia dự án.
b)     Hỗ trợ quản lý dự án theo các nội dung công việc được phân công. Thời gian làm việc của TNV có thể theo từng sự kiện của dự án hoặc xuyên suốt dự án;
c)     Là cầu nối giữa Trung tâm và đội ngũ tình nguyện viên; tham gia công tác quản lý và điều phối tình nguyện viên của dự án;
d)     Được tham gia các cuộc họp chung cùng Trung tâm để triển khai kế hoạch; GL làm việc tại trung tâm phải có thẻ TNV do Trung tâm cấp; làm việc theo lịch đăng ký nhưng không quá 3 buổi/ tuần / dự án.

4.  Vai trò và trách nhiệm của tình nguyện viên – TNV

a)     Là TNV tham gia theo từng sự kiện của dự án hoặc theo toàn bộ dự án
b)     TNV làm việc theo nhóm và chịu sự quản lý và điều phối của nhóm trưởng.
c)     Những TNV làm việc thường xuyên tại trung tâm phải có thẻ TNV do trung tâm cấp.
d)     Đảm bảo tham gia dự án trên tinh thần tự nguyện, xem việc tham gia dự án là cơ hội học hỏi, cống hiến và trưởng thành.

5.  Tài chính của Dự Án

a)    Ngân sách dự án

Ngân sách dự án được chi trả từ các nguồn sau:

-     Ngân sách tự có của Trung tâm
-     Ngân sách tài trợ từ đối tác
-     Ngân sách từ dịch vụ truyền thông / quảng bá của sự kiện

b)   Quản lý tài chính:

Trung tâm là tổ chức phi lợi nhuận nhưng phải đảm bảo hoạt động trên nguyên tắc cân bằng thu – chi. Vì vậy mọi dự án phải hoạt động dựa trên nguyên tắc:

-     Trung tâm sẽ hỗ trợ những kinh phí cơ bản trong thời gian đầu, thời gian và mức độ hỗ trợ sẽ tuỳ theo ngân sách của trung tâm và tính chất của dự án;

-     Dự án phải xây dựng được nội dung có ý nghĩa và thiết thực nhằm huy động được sự tham gia và đồng hành của cộng đồng doanh nghiệp và xã hội;

-     Ban QLDA hỗ trợ trung tâm trong việc lập dự toán chi phí, quản lý chi phí, quản lý tài chính được giao để thực hiện dự án và chịu trách nhiệm trước BGĐ trung tâm về kinh phí được giao;

-     Chi phí của dự án sẽ chi cho các nội dung sau:

  • Chi phí trực tiếp cho dự án
  • Chi phí nhân sự cho dự án
  • Đóng góp các loại thuế theo quy định
  • Đóng góp chi phí hành chính, hoạt động cho Trung tâm
  • Trích lập quỹ để đầu tư cho các dự án mới chưa có kinh phí

-     PM có trách nhiệm lập dự toán dự án, kế hoạch doanh thu – chi phí dựa trên các chi phí trên. Gửi Kế Hoạch chi phí trước khi thực hiện để Trung tâm giải ngân theo tiến độ dự án. Khi kết thúc dự án phải có tổng kế quyết toán chi phí của dự án – có đầy đủ chữ ký của Kế Toán dự án – Thủ Quỹ dự án – Quản lý dự án.

6. Quyền quản trị của Trung tâm đối với Dự Án

a)     Xác nhận quyền quản lý cao nhất đối với dự án

-     Trung tâm là đơn vị giữ quyền quyết định đối với mọi hoạt động và nhân sự của dự án.
-      Việc thực hiện đúng các quy định của Nhà Nước là việc mà bất kỳ bộ phận nào làm việc trong trung tâm đều phải tuân theo.
-     Mọi thông tin, tư liệu, nội dung, chương trình là thuộc quyền sở hữu của trung tâm không phụ thuộc vào Ban QLDA nào đang quản lý và điều hành chương trình.

b)     Quyền quản lý duy nhất đối với các kênh truyền thông của dự án

Mọi dự án do Trung tâm điều hành đều do Trung Tâm quản lý về mặt pháp lý và giữ quyền quản trị về mọi kênh thông tin của dự án (không phân biệt kênh đó do bộ phận / cá nhân nào lập ra) nhưng đang phục vụ cho dự án của Trung tâm đều thuộc quyền quản trị của Trung tâm.

c)     Quyền thay đổi PMU:

BGĐ Trung Tâm có quyền thay đổi PMU trong các trường hợp sau:

-     Quản lý và điều hành dự án trong một thời gian nhưng không có hiệu quả.
-     Nội bộ PMU không thống nhất, đoàn kết, không vì mục tiêu và hiệu quả chung.
-     PM / PMU không tuân tuân thủ các quy định của dự án và quy chế hoạt động của Trung tâm;
-     Có những hành vi vi phạm phạm luật, gây ảnh hưởng đến uy tín của tổ chức.

Trên đây là các quy định của trung tâm trong tổ chức và quản lý dự án, trung tâm có quyền thay đổi mà không cần báo trước, khi nhận thấy sự thay đổi là bắt buộc và phù hợp với điều kiện tại thời điểm đó.

Mọi thành viên tham gia dự án của trung tâm ở bất kỳ vị trí nào đều phải tuân thủ các quy định này và cam kết đã hiểu mọi trách nhiệm và nghĩa vụ trước khi quyết định tham gia dự án.

TP. Hồ Chí Minh, ngày 10 tháng 3 năm 2014

TM. Ban Giám Đốc Trung tâm

(Đã ký)

Nguyễn Thị Mỹ Hạnh

Ban Cố Vấn

Tiến sĩ Nguyễn Uy Long

Đại Học Columbia, New York, Hoa Kỳ

Cố vấn phát triển các dự án cộng đồng

 

Nguyễn Uy LongÔng Nguyễn Uy Long hoặc Billy Johnson – là tên được nhiều bạn bè và đồng nghiệp biết đến. Ông là một trong những cá nhân có ảnh hưởng nhất trong cộng đồng người Việt tại tiểu bang Washington trong vài thập kỷ qua.

Quá trình làm việc và hoạt động xã hội của ông đã có rất nhiều ảnh hưởng tích cực đến việc bảo tồn văn hóa Việt Nam tại Hoa Kỳ. Ông tổ chức khá nhiều các hoạt động cộng đồng và từ thiện xã hội tại Hoa Kỳ và đã xây dựng một xu hướng tiến bộ trong cộng đồng người Việt. Thành tích ấn tượng và nổi bật của ông Nguyễn Uy Long là sự kiện trở về Việt Nam vào năm 1998, khi đó Ông trở thành người Mỹ gốc Việt đầu tiên trong bộ máy của chính phủ Hoa Kỳ ủng hộ và thiết lập quan hệ giữa hai quốc gia Việt Nam và Hoa Kỳ. Ông cũng đóng một vai trò quan trọng trong Hội đồng cố vấn cho cựu Thống đốc bang, Mike Lowry trong đó ông quản lý quan hệ thương mại giữa Washington và Đông Nam Á trong năm 1995.

Một số lĩnh vực quan trọng mà Ông Nguyễn Uy Long từng nắm giữ và điều hành: Phát triển Kinh doanh Thương mại, Tổng biên tập cho Tin tức Sài Gòn và Giám Đốc của Đài Truyền hình Việt Nam tại tiểu bang Washington.

Hiện nay, Ông đang nắm giữ cương vị CEO cho nhiều Công ty và tập đoàn tại Việt Nam và Hoa Kỳ. Tại Việt Nam, ông Long tiếp tục là một nhân vật có sức mạnh và ảnh hưởng to lớn trong cộng đồng người Việt, đặc biệt là trong lĩnh vực nghệ thuật, giải trí và diễn giả các chương trình dành cho Doanh Nhân. Ông cũng mong muốn tham gia và đóng góp cho việc xây dựng và phát triển văn hóa, giáo dục và kinh tế tại Việt Nam.

Thạc sĩ Lê Sĩ Hoàng

Thạc sĩ Nghệ thuật | Hội viên Hội Mỹ thuật Việt Nam - Hội Nghệ sĩ Việt Nam

Cố vấn dự án Hành Trình Xanh

 

Lê Sĩ Hoàng Trong năm 2003, anh đã nhận Giải thưởng EXCELLENCE IN BOOTH DESIGN AWARD cho gian hàng triển lãm ngành công nghiệp dệt may VIỆT NAM tại HỘI CHỢ QUỐC TẾ MAGIC SHOW – Las Vegas, Bảo vệ tốt nghiệp Cao học Mỹ thuật vào ngày 03/09/2003, đạt kết quả xuất sắc với đề tài “Tranh thảm Việt Nam, bước phát triển từ Thủ công Mỹ nghệ đến Tạo hình Nghệ thuật” 2005 - Dự án THIẾT KẾ – XÂY DỰNG – HOẠT ĐỘNG NHÀ HÁT DÂN TỘC MỚI được UBND TP.HCM đưa vào danh sách kêu gọi đầu tư nước ngoài 2006 - 17 mẫu Ao dài thiết kế được Bảo tàng Museum San Jose of QUILTS & TEXTILLES - Mỹ, chọn trưng bày trong 3 tháng.

Hiện nay, anh là giảng viên thỉnh giảng trường ĐẠI HỌC KINH TẾ TP.HCM, ĐẠI HỌC HOA SEN, ĐẠI HỌC YERSIN ĐÀLẠT.

Tiến sĩ Cao Minh Trí

Tiến sĩ Kinh Doanh Quốc Tế | Thạc sĩ Kinh tế Ngoại Thương

Cố vấn dự án Giáo dục

 

Cao Minh TríLà một người tâm huyết trong lĩnh vực giáo dục, anh đã có rất nhiều chương trình và dự án dành cho sinh viên Việt Nam và Quốc tế. Đặc biệt là các chương trình nâng cao năng lực chuyên môn và kiến thức thực tế dành cho sinh viên.

Là giảng viên Đại Học và tham gia giảng dạy tại nhiều Trường Đại Học tại Việt Nam, anh luôn mơ ước tạo dựng một môi trường học tập tốt nhất dành cho sinh viên.

Anh luôn nỗ lực hết mình trong các dự án giáo dục nhằm hỗ trợ sinh viên và các dự án xây dựng và phát triển hệ thống giáo dục tại Việt Nam.

Atish Rathore

Tiến sĩ Quản trị Kinh Doanh | MA Giảng dạy Tiếng Anh

Cố vấn dự án Phát triển Quốc tế

 

Atish RathoreÔng là cố vấn về Quản trị Kinh doanh và Marketing cho rất nhiều tập đoàn và Công ty tại Việt Nam. Là thành viên tích cực trong các dự án xã hội và cộng đồng của các tổ chức xã hội.

Atish là người rất yêu mến đất nước Việt Nam và tâm huyết với việc đóng góp và tổ chức các chương trình từ thiện dành cho trẻ em nghèo và có hoàn cảnh khó khăn

Ông cũng tham gia giảng dạy nhiều chương trình cho Doanh Nhân và sinh viên tại các trường Đại Học

UNESCO

Tên gọi và lịch sử ra đời

Tên gọi đầy đủ của UNESCO

Tên tiếng Anh: United Nations Educational Scientific and Cultural Organization.
Tên tiếng Việt: Tổ chức Giáo dục, Khoa học và Văn hoá của Liên Hợp Quốc.

Biểu tượng của Tổ chức

acropolis athens unescoUNESCO sử dụng hình ảnh mô phỏng mặt tiền của Đền Thờ Parthenon làm biểu tượng của Tổ chức. Parthenon là một công trình kiến trúc văn hoá Hy Lạp cổ đại, làm bằng đá cẩm thạch trắng, kiến trúc theo trường phái Doric nổi tiếng, nằm trong quần thể kiến trúc Ancropolis trên đồi Athen, khởi móng từ năm 477 trước CN, được người cổ đại xếp hạng là một trong bảy kỳ quan văn hoá thế giới. Đây là một công trình kiến trúc tiêu biểu cho nền văn minh loài người, là biểu tượng của vẻ đẹp lý tưởng, của sức mạnh trí tuệ và khả năng sáng tạo của con người – thể hiện nội dung, tư tưởng và lòng khao khát cao cả rất gần gũi với những gì UNESCO đang vươn tới.

Lịch sử ra đời của UNESCO

Đầu năm 1942, trong khi Chiến tranh thế giới Hai đang diễn ra khốc liệt thì chính phủ các nước châu Âu trong khối liên minh chống phát xít đã tổ chức một hội nghị tại Vương quốc Anh, có tên là "Hội nghị Các bộ trưởng giáo dục của các quốc gia đồng minh" (Conference of Allied Ministers of Education, CAME) để bàn bạc và chuẩn bị cho các vấn đề sau chiến tranh. Thế chiến Hai vừa kết thúc, trong khi các quốc gia đang phải vật lộn với tình hình hậu chiến đầy khó khăn thì các nước đồng minh đã tính tới ngay việc xây dựng một hệ thống giáo dục phục vụ cho thời bình. Một dự án khẩn trương đã đạt được một sự nhất trí mang tính toàn cầu. Các quốc gia mới bao gồm các thành viên của Liên Hợp Quốc đã quyết định tham gia vào dự án này.

Theo lời kêu gọi của CAME, một hội nghị đã được triệu tập trong khuôn khổ của Liên Hợp Quốc (ra đời trước đó không bao lâu, ngày 24-10-1945), để bàn về việc thành lập một tổ chức về văn hoá và giáo dục (ECO/CONF) diễn ra tại London từ ngày 1 đến 16 tháng 11 năm 1945. Hội nghị diễn ra ngay sau khi chiến tranh vừa mới kết thúc. Hội nghị đã thu hút được sự tham gia của đại diện 44 quốc gia. Căn cứ theo đề nghị của Pháp và Anh, là hai nước được coi là chịu thiệt hại nặng nề trong cuộc chiến tranh vừa qua, các đại biểu đã đi đến nhất trí về việc thành lập một tổ chức quốc tế tiêu biểu, xứng đáng với một nền văn hoá vì hoà bình. Các quốc gia mong mỏi tổ chức này hướng tới việc thiết lập "một tình đoàn kết về trí tuệ và lương tri của toàn nhân loại" và hành động nhằm loại bỏ nguy cơ chiến tranh.

logo unesco

Kết thúc Hội nghị có 37 trong số 44 nước đã quyết định việc thành lập Tổ chức Giáo dục, Khoa học và Văn hoá của Liên Hợp Quốc (gọi tắt là UNESCO). Ngày 16-11-1945 Hội nghị đã ký thông qua nội dung Công ước UNESCO. Công ước này đã có hiệu lực sau đó một năm, vào ngày 4-11-1946, sau khi được chính phủ của 20 trong số 37 quốc gia tham gia hội nghị London phê chuẩn. Ngày 16-11-1945 được coi là ngày ra đời UNESCO. Hai mươi quốc gia đầu tiên phê chuẩn Công ước UNESCO được coi là các thành viên ban đầu (Sáng lập viên) của UNESCO, đó là: Ai Cập, Vương Quốc Anh, Ấn Độ, Australia, Brazil, Canada, Đan Mạch, Cộng hoà Dominican, Tiệp Khắc, Pháp, Hoa Kỳ, Hy Lạp, Lebanon, Mexico, Na Uy, Nam Phi, New Zealand, Saudi Arabia, Thổ Nhĩ Kỳ và Trung Quốc. Đại hội đồng đầu tiên của UNESCO được tổ chức tại Paris, Pháp từ ngày 19-11 đến 10-12-1946 với sự tham gia của đại diện của 30 chính phủ thành viên có quyền bầu cử.

Tàn dư của Thế chiến Hai cũng được phản ánh trong cơ cấu của các Quốc gia Sáng lập của UNESCO. Những quốc gia từng là phát xít như Nhật Bản và Cộng hoà Liên bang Đức đến năm 1951 mới đủ điều kiện để trở thành thành viên UNESCO, còn Tây Ban Nha là năm 1953. Những nhân tố lịch sử và chính trị như Chiến tranh lạnh, phong trào độc lập dân tộc và quá trình tan rã của chủ nghĩa thực dân trong những năm 60 của thế kỷ XX, sự sụp đổ của Đông Âu và tan rã của Liên Xô cũng kéo theo những thay đổi căn bản về cơ cấu thành viên của UNESCO. Chỉ riêng năm 1960 có 19 quốc gia châu Phi gia nhập UNESCO. Chỉ từ 1991-1993 từ một quốc gia Liên bang Xô viết (cũ) đã thành 13 quốc gia thành viên độc lập… Do tính bị chi phối bởi quy chế thành viên của Liên Hợp Quốc nên Cộng hoà Nhân dân Trung Hoa trở thành thành viên duy nhất tại UNESCO, Cộng hoà Dân chủ Đức là thành viên của UNESCO từ 1972, nhưng đến 1990 thì trao quyền đại diện cho Công hoà Liên Bang Đức.

Các tổ chức tiền thân của UNESCO

- Uỷ ban Hợp tác Trí tuệ Quốc tế (The International Committee of Intellectual Co-operation, CICI), đóng tại Geneva từ 1922-1946;
- Viện Hợp tác Trí tuệ Quốc tế (International Institute of Intellectual Co-operation, IICI), trụ sở tại Paris, 1925-19646;
- Văn phòng Quốc tế về Giáo dục (International Bureau of Education, IBE), trụ sở tại Geneva, 1925-1968. Từ 1969 IBE trở thành một bộ phận của UNESCO.

Những mốc lịch sử quan trọng của UNESCO trong 60 năm qua

- Ngày 16-11-1945: Đại diện của 37 quốc gia họp tại London để ký Công ước UNESCO. Ngày này được lấy làm ngày ra đời của UNESCO.
- Ngày 4-11-1946: Công ước UNESCO có hiệu lực sau khi được chính phủ của 20 nước phê chuẩn.
- 1948: UNESCO khuyến nghị với các nước thực hiện chế độ giáo dục bắt buộc và miễn phí trên phạm vi toàn cầu đối với trình độ tiểu học.
- 1952: Một hội nghị liên chính phủ đã được UNESCO triệu tập để thông qua Công ước Quốc tế về Quyền tác giả. Công ước góp phần tăng cường khả năng bảo vệ quyền tác giả đối với một số quốc gia trước đây chưa có điều kiện tham gia Công ước Berne về Bảo vệ các tác phẩm Văn học và Nghệ thuật ký từ 1886.
- 1956: Cộng hoà Nam Phi rút khỏi UNESCO với lời buộc tội là UNESCO đã cho phát hành hàng loạt các ấn phẩm mang tính “can thiệp nội bộ” đối với Nam Phi trong “các vấn đề về chủng tộc”. Năm 1994 Tổng thống Nelson Mandela lên nắm quyền và Nam Phi đã trở lại UNESCO.
- 1958: Khánh thành khu nhà Trụ sở của UNESCO tại Paris do nhóm kiến trúc sư Marcel Breuer (Mỹ), Pier-Luigi Nervi (Italy) và Bernard Zehrfuss (Pháp) thiết kế.
- 1960: Phát động Chiến dịch Nubia ở Ai Cập nhằm dịch chuyển Đền thờ Vĩ đại ở Abu Simbel đến vị trí an toàn để bảo tồn sau khi Ai Cập xây dựng đập nước Aswan. Trong vòng 20 năm thực hiện chiến dịch này, 22 công trình kiến trúc và tượng đài đã được di chuyển nguyên vẹn đến khu vực an toàn. Đây là một trong những công trình lớn nhất trong hàng loạt các chiến dịch bảo tồn di sản văn hoá do UNESCO phát động, bao gồm chiến dịch Moenjodaro (Pakistan), Fez (Maroc), Kathmandu (Nepal), Borobudur (Indonesia) and the Acropolis (Hi Lạp).
- 1968: UNESCO tổ chức Hội nghị liên chính phủ đầu tiên hướng tới việc giải quyết mối quan hệ giữa môi trường và phát triển, mà hiện nay người ta gọi là “phát triển bền vững”. Hội nghị này là nguyên nhân dẫn đến việc ra đời Chương trình toàn cầu của UNESCO gọi là “Con người và Sinh quyển”.
- 1972: Một Công ước quốc tế liên quan đến Bảo vệ các Di sản Văn hoá và Thiên nhiên thế giới đã được thông qua tại UNESCO. Uỷ ban Di sản Thế giới được thành lập năm 1976 và những di sản đầu tiên trên thế giới được đưa vào Danh sách Di sản Thế giới vào năm 1988.
- 1974: Giáo hoàng John Paul VI trao tặng Giải thưởng Hoà Bình John XXIII cho UNESCO.
- 1975: Trường Đại học Liên Hợp quốc được thành lập tại Tokyo dưới sự bảo trợ của Liên Hợp Quốc và UNESCO.
- 1978: UNESCO thông qua Bản Tuyên bố về Chủng tộc và thành kiến chủng tộc. Những bản báo cáo tiếp theo liên quan đến các chủ đề do Tổng Giám đốc nêu đã gây ra nhiều tai tiếng, gây mất tín nhiệm cho UNESCO, dẫn đến giải thể nhóm khoa học nghiên cứu về chủ nghĩa phân biệt chủng tộc.
- 1980: Hai tập sách đầu tiên Lịch sử Đại cương về Châu Phi của UNESCO được phát hành. Tiếp đến là các tập tương tự về các khu vực khác, đáng chú ý là về lịch sử vùng Trung Á và Caribé.
- 1984: Hoa Kỳ rút khỏi UNESCO do bất đồng trong vấn đề quản lý và những lý do khác. Tiếp đến là Anh và Singapore rút khỏi UNESCO vào năm sau, 1985. Ngân sách của UNESCO bị giảm đột ngột.
- 1990: UNESCO tổ chức Hội nghị quốc tế về “Giáo dục cho tất cả mọi người” tại Jomtiem, Thái Lan. Hội nghị đã phát động phong trào quốc tế về tạo điều kiện phổ cập học tập cơ bản cho trẻ em, thanh niên và người lớn. Mười năm sau, một hội nghị tương tự được tổ chức ở Dakar, Senegal, gọi là Diễn đàn Quốc tế về Giáo dục để đệ trình với các quốc gia những mục tiêu trên lĩnh vực giáo dục cơ bản cho tất cả mọi người cần đạt được vào năm 2015.
- 1992: Thành lập “Bộ nhớ” cho các chương trình quốc tế trên lĩnh vực bảo quản các thư viện gồm những sản phẩm văn hoá không thể thay thế được và bảo quản các bộ sưu tầm đang được lưu trữ. Nay các đối tượng cần được bảo vệ đó còn có các hiện vật lưu âm thanh, phim và các sản phẩm truyền hình.
- 1997: Vương quốc Anh quay lại UNESCO.
- 1998: Bản Tuyên bố về Nhân quyền đã được UNESCO biên soạn và thông qua vào năm 1997 đã được Liên Hợp Quốc phê chuẩn.
- 1999: Tổng Giám đốc Koichiro Matsuura tiến hành cải cách tổng thể cơ cấu và thực hiện chính sách phi tập trung hoá bộ máy công chức và hoạt động nghiệp vụ của UNESCO.
- 2001: Đại hội đồng UNESCO thông qua Bản Tuyên bố Quốc tế về Tính đa dạng Văn hoá.
- 2003: Hoa Kỳ quay lại UNESCO.
- 2005: Nước Hồi giáo Brunei trở thành quốc gia thành viên thứ 191 của UNESCO.

Tôn chỉ và Mục đích của UNESCO

Vì sao người ta thường nói rằng “Mục đích của UNESCO là cao đẹp”?

Lời mở đầu của Công ước UNESCO nói rằng: "Chiến tranh nảy sinh trong đầu óc con người, vậy ngay trong đầu óc con người cần phải xây dựng thành trì của hoà bình", và rằng: "Một nền hoà bình chỉ xây dựng trên các hiệp định kinh tế và chính trị giữa các chính phủ không thể nào giành được sự ủng hộ nhất trí lâu dài và chân thành của các dân tộc, vì vậy nền hoà bình ấy phải được thiết lập trên cơ sở đoàn kết trí tuệ và tinh thần của nhân loại."

Bởi vậy UNESCO xác định mục đích cơ bản của mình là: "Duy trì hoà bình và an ninh quốc tế bằng cách thắt chặt hợp tác giữa các quốc gia về giáo dục, khoa học và văn hoá để đảm bảo sự tôn trọng của tất cả các nước về công lý, luật pháp, nhân quyền và tự do cơ bản cho tất cả mọi người không phân biệt chủng tộc, nam nữ, ngôn ngữ, tôn giáo của Hiến chương Liên Hợp Quốc đã công nhận đối với tất cả các dân tộc".

Như vậy: Thông qua việc thành lập hoặc gia nhập tổ chức UNESCO, các dân tộc và các quốc gia mong muốn thực hiện ý tưởng về một sự "đoàn kết trí tuệ và tinh thần" với tầm nhìn của toàn nhân loại và lấy đó làm nền tảng để vun đắp cho một nền hoà bình vững chắc. Đó cũng là điểm khác biệt của UNESCO so với nhiều tổ chức chuyên môn khác của Liên Hợp Quốc và các tổ chức quốc tế nói chung.

Chức năng cơ bản của UNESCO

Nhằm đạt tới mục tiêu của mình, Công ước thành lập UNESCO quy định các chức năng:

  1. Khuyến khích sự hiểu biết và thông cảm lẫn nhau giữa các dân tộc qua những phương tiện thông tin rộng rãi, khuyến nghị những hiệp định quốc tế cần thiết để khuyến khích tự do giao lưu tư tưởng bằng ngôn từ và hình ảnh.

  2. Thúc đẩy mạnh mẽ việc giáo dục quần chúng và truyền bá văn hoá bằng cách:
    • Hợp tác với các nước thành viên trong việc phát triển các hoạt động giáo dục theo yêu cầu của mỗi người;
    • Hợp tác giữa các quốc gia nhằm thực hiện từng bước lý tưởng bình đẳng về giáo dục cho mọi người, không phân biệt chủng tộc, nam nữ, hoặc bất cứ một sự phân biệt nào khác về kinh tế xã hội;
    • Đề xuất những phương pháp giáo dục thích hợp để chuẩn bị cho trẻ em thế giới về trách nhiệm đối với tự do.

  3. Duy trì và nâng cao ứng dụng kiến thức bằng cách:
    • Bảo tồn và bảo vệ di sản thế giới về sách báo, tác phẩm nghệ thuật và các công trình lịch sử hay khoa học và khuyến nghị với các nước hữu quan về các công ước quốc tế cần thiết;
    • Khuyến khích hợp tác giữa các quốc gia về tất cả các ngành hoạt động trí tuệ, trao đổi quốc tế cán bộ hoạt động trong các lĩnh vực giáo dục, khoa học, văn hoá và truyền thông, kể cả trao đổi sách báo, trao đổi các sản phẩm có giá trị khoa học, nghệ thuật và các tư liệu thông tin khác;
    • Khởi xướng những phương thức hợp tác quốc tế nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho nhân dân ở tất cả các nước tiếp cận được với tất cả các ấn phẩm của những nước khác.


UNESCO đặc biệt coi trọng nguyên tắc: "Quan tâm đảm bảo tính độc lập, toàn vẹn và đa dạng phong phú của các nền văn hoá và hệ thống giáo dục của các nước thành viên và không can thiệp vào những công việc thuộc quyền giải quyết nội bộ của mỗi nước."

Các lĩnh vực chuyên môn của UNESCO

Hành động hướng tới giải quyết các thách thức thời đại và toàn cầu

UNESCO triển khai các hoạt động của mình trên các lĩnh vực chuyên môn sau: Giáo dục, Khoa học tự nhiên, Khoa học Xã hội và Nhân văn, Văn hoá, Thông tin và Truyền thông. Các lĩnh vực chuyên môn chính và các lĩnh vực chuyên sâu do các vụ, các phòng ban chuyên môn của Ban Thư ký của UNESCO phụ trách. Cấu trúc và mối quan hệ giữa các lĩnh vực chuyên sâu và các chuyên đề cụ thể được sắp xếp hệ thống như sau:

  1. Giáo dục:
    • Quyền được học tập
    • Các kế hoạch và các chính sách về giáo dục
    • Trẻ em độ tuổi ấu thơ và gia đình
    • Giáo dục tiểu học
    • Giáo dục trung học
    • Giáo dục cao đẳng
    • Giáo dục chuyên nghiệp và dạy nghề
    • Giáo dục khoa học và công nghệ
    • Giáo dục phi chính quy
    • Giáo dục kỹ năng
    • Giáo dục sức khoẻ nhà trường và giáo dục HIV/AIDS
    • Tính đa dạng văn hoá và ngôn ngữ trong giáo dục
    • Giáo dục sư phạm
    • Giáo dục trong hoàn cảnh nguy cấp, khủng hoảng và tái thiết
    • Giáo dục thể chất và thể thao
    • Giáo dục về hoà bình và nhân quyền
    • Giáo dục phi bạo lực
  2. Khoa học tự nhiên:
    • Khoa học về nước sạch
    • Nghiên cứu về vấn đề con người, tính đa dạng sinh học và sinh thái học
    • Hải dương học
    • Khoa học về trái đất
    • Khoa học cơ bản và khoa học chế tạo
    • Khoa học về các vùng ven biển và các đảo nhỏ
    • Chính sách khoa học
    • Khoa học về thiên tai
    • Vấn đề phụ nữ và khoa học
    • Nghiên cứu về hệ thống tri thức bản địa
  3. Khoa học Xã hội và Nhân văn:
    • Mỹ học
    • Nhân quyền
    • Triết học
    • Vấn đề giải quyết tận gốc rễ sự đói nghèo
    • Tương lai học
    • Khoa học nghiên cứu về biến đổi xã hội
  4. Văn hoá:
    • Di sản thế giới
    • Di sản vật thể
    • Di sản phi vật thể
    • Tính đa dạng văn hoá
    • Hành vi chuẩn mực
    • Đối thoại giữa các nền văn hoá
    • Văn hoá và phát triển
    • Nền công nghiệp văn hoá
    • Nghệ thuật và sáng tạo
    • Quyền tác giả
    • Bảo tàng
    • Du lịch văn hoá
    • Tiêu điểm đặc biệt
  5. Thông tin và truyền thông:
    • Sự truy cập thông tin
    • Sức chứa thông tin và tạo dựng thông tin
    • Phát triển nội dung thông tin
    • Tự do biểu cảm
    • Phát triển phương tiện thông tin đại chúng
    • Bảo quản thông tin

Các chủ đề đặc biệt trong các chương trình hành động của UNESCO

  • Chủ đề giới tính
  • Chủ đề thanh niên
  • Ưu thế của Châu Phi
  • Các nước chậm phát triển
  • Văn hoá vì hoà bình
  • Đối thoại giữa các nền văn minh

Các chủ đề mang tính nóng hổi mà UNESCO quan tâm

  • Loại bỏ sự đói nghèo, đặc biệt là đối với tình trạng bần cùng hoá.
  • Sự đóng góp của công nghệ thông tin và truyền thông đối với lĩnh vực giáo dục, khoa học, văn hoá và truyền thông và việc xây dựng một xã hội tri thức.

Các lĩnh vực ưu tiên đặc biệt của UNESCO

  • Giáo dục cơ bản cho tất cả mọi người
  • Nước và hệ thống sinh thái liên hợp
  • Ủng hộ vấn đề tính đa dạng văn hoá song song với việc nhấn mạnh đặc biệt vấn đề di sản vật thể và phi vật thể.
  • Trao quyền hành động cho con người thông qua hệ thống thu nhận thông tin và kiến thức song song với việc nhấn mạnh về quyền tự do biểu cảm.

Những chủ đề đặc biệt khác được UNESCO quan tâm

  • HIV/AIDS
  • Phát triển bền vững
  • Dân tộc bản địa
  • Các đảo nhỏ
  • Sóng thần ở Ấn Độ Dương

Chiến lược của UNESCO

Định hướng chiến lược của UNESCO

Chiến lược hành động của UNESCO được thực hiện theo các Chương trình Trung hạn được Đại hội đồng UNESCO phê chuẩn. Các Chương trình Trung hạn này thường kéo dài khoảng 5 năm, được chia thành các chương trình ngắn hạn gắn với nguồn ngân sách cụ thể.

Chương trình Trung hạn giai đoạn 2002-2007 cùng với Chương trình Ngân sách giai đoạn 2002-2003 gắn với chủ trương cải cách của UNESCO đã được Đại hội đồng 31 của UNESCO thông qua vào tháng 10 và tháng 11 năm 2001 bằng Nghị quyết 31C/Resolution. Chiến lược hướng tới việc thiết lập một cách nhìn mới và cách quan sát mới cho Tổ chức bằng cách gạn lọc lại các chức năng căn bản của UNESCO.

Nhìn tổng quan, đó là một chủ đề lớn liên quan đến vai trò và đóng góp của UNESCO đối với hoà bình và sự phát triển của nhân loại trong xu thế toàn cầu hoá hiện nay, thông qua các hoạt động trên lĩnh vực giáo dục, khoa học, văn hoá và truyền thông. Theo cách đó, điều này dẫn đến việc cần xác lập mối quan hệ giữa quyền lực của UNESCO với vai trò của tổ chức này trong tiến trình toàn cầu hoá của toàn nhân loại.

Chiến lược kết hợp các chương trình chủ yếu của UNESCO với các mục tiêu chung và định ra một con số nhất định các mục tiêu mang tính chiến lược cho giai đoạn hiện nay. Con số đó được UNESCO đưa ra là 12 vấn đề chiến lược, mỗi vấn đề lớn đó được gắn với những chương trình cụ thể. Theo hướng các mục tiêu chiến lược này, hai chủ đề cốt lõi đã được xây dựng mà về bản chất là phản ánh và xuyên suốt trong tất cả các chương trình hành động cụ thể của UNESCO, đó là: loại bỏ tận gốc sự nghèo đói, đặc biệt là đối với tình trạng bần cùng và: đóng góp của công nghệ thông tin và truyền thông vào sự nghiệp giáo dục, khoa học, văn hoá và thông tin đồng thời xây dựng một xã hội tri thức.

1. Chủ đề hợp nhất của UNESCO

UNESCO đóng góp vào sự nghiệp bảo vệ hoà bình và phát triển con người trong thời đại quốc tế hoá thông qua giáo dục, khoa học, văn hoá và truyền thông.

2. Ba chiến lược chính mang tính xuyên suốt của UNESCO

  • Phát triển và hỗ trợ các nguyên tắc ,các tiêu chuẩn toàn cầu dựa trên các giá trị được chia sẻ nhằm đáp ứng các thách thức trong lĩnh vực giáo dục, khoa học, văn hoá và truyền thông; bảo vệ và củng cố “các thành quả tốt đẹp của cộng đồng”.
  • Khuyến khích tính đa dạng thông qua việc thừa nhận sự an toàn của tính đa dạng của nhân quyền.
  • Khuyến khích việc trao quyền và thực hành cho một xã hội tri thức thông qua các cơ hội chia sẻ kiến thức.

3. Mười hai mục tiêu chiến lược cụ thể của UNESCO

Về Giáo dục:
1. Đẩy mạnh giáo dục như một quyền căn bản phù hợp với Tuyên bố Nhân quyền;
2. Cải thiện chất lượng giáo dục trong sự đa dạng hoá nội dung và phương pháp giáo dục và đẩy mạnh việc chia sẻ các giá trị trên phạm vi toàn thế giới;
3. Đẩy mạnh việc thử nghiệm, canh tân, phổ biến và chia sẻ các thông tin và đối thoại giữa kinh nghiệm thực tiễn và chính sách trong lĩnh vực giáo dục.

Về Khoa học:
4. Thúc đẩy các nguyên tắc và chuẩn mực đạo đức trong việc phát triển khoa học công nghệ và trong sự chuyển hoá xã hội;
5. Cải thiện các điều kiện an toàn cho con người nhờ vào việc quản lý tốt hơn những thay đổi môi trường và xã hội;
6. Nâng cao các điều kiện tham gia cho mọi người về mặt khoa học, kỹ thuật và nhân văn trên con đường tiến tới một xã hội tri thức.

Về Văn hoá:
7. Đẩy mạnh việc soạn thảo và ứng dụng các công cụ chuẩn mực trong lĩnh vực văn hoá;
8. Bảo đảm an toàn cho tính đa dạng văn hoá và khuyến khích đối thoại giữa các nền văn hoá và các nền văn minh;
9. Tăng cường các mối quan hệ giữa văn hoá và phát triển, thông qua khả năng xây dựng và chia sẻ tri thức.

Về Thông tin và Truyền thông:
10. Thúc đẩy luồng thông tin tự do đối với các ý tưởng và truy cập thông tin ở phạm vi toàn cầu;
11. Thúc đẩy việc mở rộng sự đa dạng về văn hoá trong các phương tiện thông tin đại chúng và các mạng thông tin quốc tế;
12. Tạo khả năng tiếp nhận tất cả các công nghệ thông tin và truyền thông, đặc biệt trong lĩnh vực thông tin cộng đồng.

Dự án Hành Trình Xanh

 

Giới thiệu dự án HÀNH TRÌNH XANH 2014

ĐẶT VẤN ĐỀ

Phát triển bền vững Giao Thông Công Cộng là mô hình mà hầu hết các thành phố lớn trên thế giới đang tiến tới. Cùng với quá trình phát triển của kinh tế xã hội, quá trình đô thị hóa và cơ giới hóa nhanh chóng khiến giao thông thành phố đối mặt với nhiều áp lực.

Khi ùn tắc giao thông trở thành bài toán khó giải đối với giao thông đô thị thì “phát triển bền vững giao thông” càng được chú trọng và trở thành đề tài nghiên cứu trọng điểm.

Giao thông công cộng là cơ sở hạ tầng đô thị quan trọng, là nhu cầu thiết yếu của cuộc sống. Việt Nam trong một vài năm gần đây GTCC tuy đã được chú trọng phát triển, nhưng chưa thể đáp ứng được so với nhu cầu thực tế. Ùn tắc giao thông, ô nhiễm môi trường, tiêu thụ năng lượng, văn hóa giao thông và hàng loạt các bất tiện khi sử dụng dịch vụ GTCC là những vấn đề nghiêm trọng mà giao thông đô thị đang phải đối mặt.

Giải pháp nào để xây dựng Văn Hóa Giao Thông?

Làm gì để xây dựng và phát triển bền vững hệ thống Giao Thông Công Cộng?

Ai sẽ là những nhân tố quan trọng trong quá trình xây dựng đó?

BỨC TRANH THỰC TRẠNG

-       Việt Nam “Vương Quốc của Xe Máy”

-       Ô nhiễm môi trường, Kẹt xe

-       Vỉa hè của người đi bộ:

-       Vi phạm luật giao thông:

-       Tai nạn giao thông:

VẤN ĐỀ & GIẢI PHÁP

Giao thông đô thị được hình thành song song với quá trình hình thành và phát triển đôi thị. Hệ thống giao thông công cộng được xem là một trong những tiêu chí đánh giá sự phát triển của một đô thi hiện đại và cả của quốc gia.

Vì vậy, sự tiến hóa đô thị và phát triển giao thông luôn có ảnh hưởng và phụ thuộc nhau không thể tách rời.

Tuy nhiên, điều này không có nghĩa là toàn bộ quá trình phát triển này có thể coi là phát triển bền vững.

Hiện nay chúng ta đang phải đối mặt với một thực tế, đó là khi tốc độ đô thị hóa nhanh, tuy rằng đã quy hoạch mở rộng và mở thêm rất nhiều đường mới nhưng giao thông vẫn ùn tắc.

Vậy nguyên nhân là do đâu?

-       Sự tăng trưởng quá nhanh của phương tiện giao thông cá nhân?

-       Quy hoạch giao thông chưa hợp lý?

-       Phân luồng /phân tuyến còn trùng lặp của phương tiện GTCC?

-       Ý thức của người tham gia giao thông?

Việc này dẫn đến:

-       Lãng phí tài nguyên (xăng, dầu tiêu hao khi kẹt xe)

-       Ô nhiễm môi trường ngày càng nghiêm trọng;

-       Tiêu tốn hàng triệu giờ công vô ích của xã hội;

-       Tai nạn giao thông và những mất mát về tinh thần, vật chất.

-       Ảnh hưởng đến sự phát triển chung của nền kinh tế

DỰ ÁN HÀNH TRÌNH XANH với mục tiêu xây dựng MỘT CỘNG ĐỒNG XANH vì MỘT ĐÔ THỊ XANH với hệ thống GIAO THÔNG XANH

MỤC TIÊU HƯỚNG ĐẾN CỦA DỰ ÁN

  1. Truyền thông thay đổi nhận thức của giới trẻ trong việc sử dụng phương tiện Vận tải công cộng; phương tiện XANH (phương tiện vận tải thân thiện với môi trường)
  2. Xây dựng văn hóa giao thông trong cộng đồng; khuyến khích phát triển các hình thức giao thông giảm thiểu ô nhiễm môi trường;
  3. Vận động thay đổi các phương tiện cũ và hướng đến sử dụng nhiên liệu sạch
  4. Vận động Phong trào “Đường sạch – Hè thoáng” tại các khu đô thị; xanh hóa các con đường đô thị
  5. Thực hiện Chương trình “Chuyến Xe Yêu Thương” hàng năm với mục đích hỗ trợ tàu xe cho Sinh Viên Nghèo về quê đón Tết & học sinh các tỉnh về thành phố thi đại học – Đây là một hoạt động cộng đồng hướng đến những giá trị xã hội với mong muốn xây dựng thế hệ trẻ của cộng đồng xanh trong tương lai. Đồng thời thể hiện tinh thần chia sẻ và đóng góp của dự án.

KẾ HOẠCH HOẠT ĐỘNG 2014

Số

Tên Chương trình

Thời gian / địa điểm

Hoạt động

1

Chương trình Ca Nhạc – Võ Thuật – Hài Kịch – chủ đề

CHUYẾN XE YÊU THƯƠNG – XUÂN 2014

(Kế hoạch 2013 – đã thực hiện)

 

-   Ngày 10/ 01/2014

-   Ký túc xá Đại Học Bách Khoa

-   Văn Nghệ

-   Đấu giá / gây quỹ

-   Trao quỹ cho ĐHBK

CÁC CHƯƠNG TRÌNH MỚI NẰM TRONG KẾ HOẠCH 2014

1

Chương trình triển lãm Ảnh Nghệ Thuật với chủ đề TÌNH ĐÁ BAO DUNG

Tham khảo:http://unesco-cep.org.vn/tin-tuc/trien-lam-anh-nghe-thuat-tinh-da-bao-dung

-   Khai mạc: 20/02/2014

-   Bế mạc: 23/02/2014

-   Pearl Café

-   Đêm văn nghệ tổng kết 22/2/2014

-   Bán đấu giá gây quỹ -  Giao lưu nhóm tác giả

2

Cuộc thi online: Xe Buýt - Tại Sao Không?

26/03 --> 21/04/2014

Gala trao giải: 26/04/2014

-   Theo dõi cuộc thi, tổng kết, tìm kiếm ý tưởng hay.

-   Trao giải

3

Ngày Xanh cho thành phố

08/05/2014

-   Vận động TNV của dự án và các bạn sinh viên 25 trường Đại Học sử dụng các phương tiện xanh (xe đạp, xe buýt) đến trường

-   Toàn bộ TNV của dự án tham gia đi diễu hành bằng xe đạp tại khu đô thị trung tâm.

4

Bay đến tương lai "Fly to the Future" – Hè 2014

Tháng 04 --> 07/2014

- Phối hợp với các tỉnh đoàn trong việc tổ chức các hoạt động hỗ trợ sinh viên nghèo – học giỏi các tỉnh miền Trung vào thành phố thi đại học.

- Tuyển tình nguyện viên cho chương trình.

5

Tổng kết Cuộc thi ảnh

CÂU CHUYỆN CỦA SÂN GA

-   Tổ chức thi: từ tháng 5 – đến tháng 8/2014

-  Tổ chức cuộc thi phóng sự ảnh về các đề tài liên quan đến sân ga;

6

“Vì một đô thị xanh”

Các hoạt động truyền thông, hỗ trợ cho 02 mục tiêu:

-  Giao thông trật tự
-  Vỉa hè thông thoáng

-   Tháng 04 - 12/2014

-   6 đợt ra quân tham gia hỗ trợ tại các nút giao thông trọng tuyến

-   Truyền thông về Văn Hóa Giao Thông / Bảo vệ môi trường qua bannes, khẩu hiệu.

7

Tổng kết cuộc thi phim tài liệu

CÂU CHUYỆN CỦA SÂN GA

-   Tháng 05 - 10/2014

-   Vận động sinh viên tham gia cuộc thi làm phim tài liệu / phim truyện về các đề tài liên quan đến sân ga;

-   10 /2014 – tổ chức đêm chung kết trao giải tại ĐH Điện Ảnh TP.HCM

-   Gây quỹ dự án

8

 

CHUYẾN XE YÊU THƯƠNG

Chuẩn bị kế hoạch đưa sinh viên về quê  ăn Tết.

-   Chương trình chạy suốt tháng 10/2014 & 01 / 2015

-   Lập kế hoạch vận chuyển
-   Thông báo, đăng ký
-   Thuê xe
-   Đưa sinh viên về quê

9

Đêm Gala tổng kết dự án năm 2014

-   Ngày 10/01/2015

-   Trường ĐH Bách Khoa

• Văn nghệ mừng xuân.
• Tuyên dương những TNV Tiêu biểu của dự án.
• Họp mặt những thành viên của Chương trình “Bay đến tương lai” đã đậu đại học và nhập học
• Sự tham gia của những thành viên đã đăng ký chương trình “Chuyến xe yêu thương”
• Cám ơn những đơn vị đồng hành cùng dự án

 

Mọi chi tiết xin liên hệ   

Trung tâm UNESCO Văn Hóa Giáo Dục và Đào Tạo

Địa chỉ:  68, Võ Thị Sáu, P.Tân Định, Q1, TP.HCM

Tel:          08.3820 5445  - 08. 6658 9758

Email:      hanhtrinhxanh@unesco-cep.org.vn

Hotline:           0942 622 428 (Ms. Hạnh)

0906 722 827  (Ms. Ngọc)

TRÂN TRỌNG CÁM ƠN

 

Tham Gia Hội Viên

Nhiệm vụ và tính chất của Liên hiệp các Hội UNESCO Việt Nam (VFUA – Vietnam Federation of UNESCO Acsociations) quy định tại điều 2- Điều lệ của Liên hiệp các Hội UNESCO Việt Nam:

- "Liên Hiệp các hội UNESCO Việt Nam là một tổ chức xã hội, phi chính phủ, không vụ lợi , tập hợp rộng rãi các Câu lạc bộ UNESCO trên phạm vi quốc gia và các công dân Việt Nam tự nguyện tham gia, đóng góp vào các hoạt động vì các mục tiêu, lý tưởng của UNESCO đã được ghi nhận trong Công ước thành lập UNESCO"

- "Liên Hiệp các hội UNESCO Việt Nam có nhiệm vụ thúc đẩy việc truyền bá các mục tiêu, chương trình hoạt động của UNESCO, thông tin kiến thức về khoa học, giáo dục, văn hoá và thông tin - là những lĩnh vực hoạt động của UNESCO, thông qua đó góp phần nâng cao dân trí, phát triển đất nước, tăng cường hữu nghị và hợp tác giữa các dân tộc, các quốc gia, bảo vệ hoà bình và an ninh thế giới"

- Trung tâm UNESCO Văn Hóa Giáo Dục và Đào tạo (UNESCO-CEP) – được thành lập theo Quyết định số 47/QĐ-HH ngày 01/10/2004 và có trụ sở tại TP.Hồ Chí Minh. UNESCO-CEP là thành viên của VFUA, hoạt động trên phạm vi cả nước, theo tôn chỉ, mục đích của UNESCO. UNESCO-CEP triển khai các hoạt động theo hình thức các Chương trình (Programs) và Dự án (Projects).

Hội viên của tổ chức

Điều lệ của VFUA quy định: "Những Doanh Nghiệp, tập thể, đơn vị và những công dân Việt Nam tán thành Điều lệ của VFUA và tự nguyện xin gia nhập vào tổ chức thì được kết nạp. Không phân biệt chính kiến, tôn giáo, tuổi tác, thành phần xã hội và trình độ học vấn và nghề nghiệp"

Thành phần các hội viên

1.  Hội viên chính thức là những tập thể, cá nhân tự nguyện xin gia nhập làm thành viên của UNESCO-CEP và cam kết tôn trọng Điều lệ Liên Hiệp các Hội UNESCO Việt Nam và Điều lệ Hoạt động của UNESCO-CEP.

2.  Hội viên danh dự là những cá nhân và tập thể người Việt Nam và người nước ngoài có đóng góp, giúp đỡ đặc biệt và phi lợi nhuận cho các hoạt động của tổ chức.

3.  Hội viên tham gia là các Doanh Nghiệp / Cá Nhân / các tổ chức đoàn thể xã hội ủng hộ, đóng góp cho  về mặt tinh thần, công sức hoặc tài chính cho các hoạt động của UNESCO-CEP.

4.  Hội viên tư vấn là những cá nhân tự nguyện tham gia đóng góp những ý kiến mang tính chiến lược cho các hoạt động của UNESCO-CEP xây dựng những đề án mới, tư vấn cho những chương trình mang tính chuyên môn cao.

Nghĩa vụ của Hội viên

1.    Tích cực tham gia các hoạt động của UNESCO-CEP, đặc biệt là những chương trình / dự án đã cam kết tham gia đồng hành;

2.    Chấp hành tốt Điều Lệ của UNESCO-CEP, không được phép làm bất kỳ điều gì ảnh hưởng uy tín, hình ảnh của Trung tâm và tổ chức;

3.    Giới thiệu các hội viên mới đủ phẩm chất và tích cực tham gia đóng góp vào các hoạt động cộng đồng và xã hội.

4.    Đóng hội phí theo quy định.

Quyền hạn của Hội viên

1.    Được đóng góp ý kiến, tham gia hoạt động, xây dựng các chương trình, dự án mới nằm trong phạm vi hoạt động của Trung Tâm;

2.    Được bầu cử và ứng cử vào các vị trí quan trọng trong bộ máy của UNESCO-CEP;

3.    Được tham gia vào những chương trình giao lưu, huấn luyện, đào tạo do UNESCO-CEP tổ chức. Được hưởng những phúc lợi tinh thần và vật chất do các hoạt động của UNESCO-CEP quản lý và mang lại;

4.    Được yêu cầu bảo vệ các nguyện vọng và quyền lợi chính đáng của mình với tư cách hội viên trong phạm vi hoạt động của UNESCO-CEP;

5.    Được xin ra khỏi thành viên của UNESCO-CEP khi không còn nguyện vọng.

Lệ phí tham gia

1.    Lệ phí Doanh Nghiệp: 3.000.000 đồng / năm

2.    Lệ phí Cá Nhân:       1.000.000 đồng / năm

*** Đối với thành viên Doanh Nghiệp được đề cử danh sách 5 thành viên tham gia.   

Mọi chi tiết xin liên hệ

Trung tâm UNESCO Văn Hóa Giáo Dục và Đào Tạo

68 – Võ Thị Sáu – P.Tân Định – Q.1 – TP.HCM

Điện thoại: 0906 966 001 [Mr. Đức]   - E: duc.le@unesco-cep.org.vn

Giới thiệu

Trung tâm UNESCO Văn hóa Giáo dục và Đào tạo (UNESCO-CEP)

Là một tổ chức phi chính phủ hoạt động theo nguyên tắc phi lợi nhuận, trực thuộc Liên Hiệp các Hội UNESCO Việt Nam (VFUA). UNESCO-CEP hoạt động theo Điều lệ của VFUA và sứ mệnh của UNESCO.

UNESCO-CEP hoạt động với mục đích  thúc đẩy hòa bình thế giới, đề cao công bằng, giảm đói nghèo và tăng cường liên kết xã hội. Trung tâm hỗ trợ và phối hợp cùng các đơn vị, doanh nghiệp, tổ chức thực hiện và phát triển chính sách và thực tiễn liên quan đến giáo dục cho tất cả các ngành nghề đồng thời phát triển kĩ năng cho người lao động và công dân với mục tiêu đề ra là :

  • Tiếp cận đến mọi đối tượng, xây dựng những hiệu ứng tích cực
  • Tổ chức các chương trình có chất lượng cao, liên quan chặt chẽ và hiệu quả
  • Tạo điều kiện cho mọi người khả năng tìm kiếm cơ hội từ cuộc sống

Trung tâm góp phần vào việc tăng cơ hội tìm kiếm  nghề nghiệp ổn định, đề cao quyền cá nhân và phát triển kinh tế - xã hội, đặc biệt chú trọng đến đối tượng thanh thiếu niên, phụ nữ và những người chịu hoàn cảnh thiệt thòi. Vẫn đề được đặc biệt nhấn mạnh là làm sao đáp ứng nhu cầu phát triển kinh tế của đất nước song song cùng với việc bảo tồn và phát triển các giá trị văn hóa dân tộc.

UNESCO-CEP đóng vai trò chủ chốt trong việc thực hiện chương trình / dự án văn hóa và giáo dục. Đặc biệt là các chương trình  Giáo dục cho mọi người và Giáo dục cho sự phát triển bền vững.

Chúng tôi hoàn thành nhiệm vụ bằng cách hành động để củng cố và nâng cao mạng lưới trên toàn quốc thông qua các hoạt động chủ yếu liên quan đến:

  • Khuyến khích hợp tác quốc tế và vùng miền về vấn đề phát triển nguồn nhân lực
  • Nâng cao nhận thức của xã hội về các hoạt động của UNESCO
  • Khuyến khích  thực tiễn sáng tạo trong Giáo dục đào tạo văn hóa / kĩ thuật và dạy nghề
  • Chia sẻ tri thức, liên kết cộng đồng, hợp tác phát triển
  • Trao đổi chuyên môn và nguồn lực
  • Đẩy mạnh quan hệ đối tác với các tổ chức có liên quan khác.

Mục tiêu hoạt động

VFUA là một thành viên của UNESCO, hoạt động theo tôn chỉ, điều lệ của tổ chức, UNESCO-CEP  mong muốn trở thành trung tâm của sự ưu tú, là một trung tâm hoạt động hiệu quả trên lĩnh vực Văn hóa và Giáo Dục -  hoàn thành sứ mệnh đề ra.

Nhiệm vụ và quyền hạn của UNESCO-CEP

- Mở các lớp, các khóa đào tạo, bồi dưỡng, huấn luyện về ngoại ngữ, tin học, văn hóa, âm nhạc, mỹ thuật và các hoạt động giáo dục khác cho các đối tượng có nhu cầu trong cộng đồng trong phạm vi quy định và hướng dẫn của cơ quan nhà nước có thẩm quyền.

- Tổ chức các khóa dạy tiếng Việt và Văn hóa Việt Nam cho người nước ngoài; các hoạt động giao lưu văn hóa và các sự kiện văn hóa.

- Tổ chức các khóa tập huấn, trao đổi kinh nghiệm, hội thảo, hội nghị về các lĩnh vực văn hóa, giáo dục và khoa học. Thực hiện các chương trình biên, phiên dịch các ngôn ngữ theo yêu cầu.

- Hợp tác, liên kết với các cá nhân, tổ chức trong và ngoài nước để thực hiện các chương trình đào tạo, giảng dạy. Thực hiện các chương trình trao đổi sinh viên; trao đổi và hỗ trợ giáo viên.

- Tổ chức và thực hiện các chương trình, dự án tình nguyện viên trong nước và quốc tế nhằm hỗ trợ, thúc đẩy và triển khai các chương trình về kỹ năng sống, giá trị sống và các kỹ năng hoàn thiện bản thân. Thực hiện các dư án phát triển giáo dục, bảo tồn văn hóa, gìn giữ môi trường.

- Hỗ trợ và cung cấp thông tin của các tổ chức văn hóa, giáo dục trong và ngoài nước theo yêu cầu của các đơn vị, tổ chức và cá nhân.

Cơ cấu tổ chức của UNESCO-CEP

TRUNG TÂM

Vị trí

Liên hệ

Lê Nguyễn Thùy Linh

Giám Đốc

linh.le@unesco-cep.org.vn

Lê Ngô Bảo Việt

Phó Giám Đốc

viet.le@unesco-cep.org.vn

CÁC CHƯƠNG TRÌNH/DỰ ÁN

Phụ trách các chương trình/dự án

Liên hệ

Dự án Today’s Voice

Lê Đình Hiếu

hieu.le@unesco-cep.org.vn

Dự án The Beauty of Vietnam

Trần Thị Phương
Phan Thị Kim Nhựt

phuong.tran@unesco-cep.org.vn
nhut.phan@unesco-cep.org.vn

Báo Chí - Truyền Thông

Lê Quang Đức

duc.le@unesco-cep.org.vn

Dự án Green Talk

1. Tổ chức chương trình

Thời gian: từ 01/2014 đến ngày 05/06/2014 (ngày môi trường TG).
Đơn vị tổ chức: Trung tâm UNESCO Văn hóa, Giáo dục và Đào tạo

Các trang hoạt động chính:

Website:  www.greentalk.vn

Fanpage: www.facebook.com/greentalk.vn

Đơn vị truyền thông đồng hành: VTV, HTV, Tuổi trẻ, VOV giao thông, Thanh Niên, Mực tím,…

Nghệ sĩ, người nổi tiếng tham gia: Hoa hậu Ngọc Hân, Nghệ sĩ Trần Lập, diễn viên/ người mẫu Trương Nam Thành, diễn viên Hạnh Thúy,…

2. Đối tượng tham gia

Người dân Việt Nam – chủ lực là sinh viên, học sinh trên toàn quốc.
Các tổ chức, công ty, đơn vị quan tâm đến vấn đề bảo vệ môi trường.

3.  Ý nghĩa 

Vì sao chúng ta bàng quan khi thấy một người thả rác xuống dòng sông?
Chúng ta chịu đựng khói thuốc đang cháy dù biết độc hơn gấp 21 lần so với khói thuốc người hút thở ra!

Chúng ta nhắm mắt làm ngơ khi biết trong thức ăn của mình chứa độc tố gây ung thư...
Im lặng trở thành căn bệnh của xã hội - sự im lặng chết người!

Im lặng và im lặng. Bệnh tật, thiên tai, ô nhiễm…Chúng ta đang là nạn nhân của chính mình với sự đồng lõa của im lặng!

Green Talk - chiến dịch chủ động phá vỡ sự Im lặng. Hãy LÊN TIẾNG cùng GREEN TALK!

4. Mục đích

Green Talk khơi dậy sự chủ động LÊN TIẾNG của con người với môi sinh, mục tiêu hàng đầu là dựa vào sức mạnh của mỗi Tình nguyện viên tham gia, rèn luyện để họ trở thành TNV cho chính cuộc sống của mình và là một nhân tố quan trọng thay đổi nhận thức và hành động vì môi trường. Mỗi cá nhân tham gia Green Talk sẽ nhìn thấy mình và biết cần làm điều gì cho môi trường.

5. Nội dung hoạt động 2014

(từ 01/2014 – 05 hàng năm) Green Talk đẩy mạnh 3 hoạt động chính:

  • Giờ Xanh (giờ nhặt rác tuyên truyền vào 9h sáng CN hàng tuần)
  • Nhảy Flashmob tạo hiệu ứng trên quy mô lớn (Huy động cam kết  bằng dấu vân tay nhân ngày trái đất 22.04.2014)
  • Gian hàng xanh (tổ chức kết hợp các đơn vị - không tổ chức riêng)

VFUA

Hiệp hội Câu lạc bộ UNESCO Việt Nam là một tổ chức xã hội, phi chính phủ, không vụ lợi , tập hợp rộng rãi các Câu lạc bộ UNESCO trên phạm vi quốc gia và các công dân Việt Nam tự nguyện tham gia, đóng góp vào các hoạt động vì các mục tiêu, lý tưởng của UNESCO đã được ghi nhận trong Công ước thành lập UNESCO

Liên hiệp các hội UNESCO Việt Nam

Tên gọi và lịch sử ra đời

Tên tiếng Việt: Liên hiệp các Hội UNESCO Việt Nam
Tên tiếng Anh: Vietnam Federation of UNESCO Associations.
Tên viết tắt tiếng Anh: VFUA

Biểu tượng của Tổ chức

Liên hiệp các Hội UNESCO Việt Nam sử dụng Biểu tượng của Hiệp hội UNESCO Thế giới làm biểu tượng trong các hoạt động của mình. Biểu tượng đó là hình đường xoáy ốc chạy quanh dòng chữ UNESCO ở vị trí trung tâm. Đường xoáy ốc tượng trưng cho quy luật phát triển, đồng thời thể hiện tinh thần đoàn kết, sự ủng hộ của nhân dân thế giới đối với lý tưởng cao đẹp đối với cương lĩnh hành động của UNESCO.

Ngoài ra, trong những hoạt động lớn mang nội dung văn hoá và chuyên môn thuần khiết, để thể hiện sự tôn vinh đối với UNESCO và tuyên truyền cho lý tưởng, tôn chỉ và mục đích của UNESCO, Liên hiệp có thể được sử dụng biểu tượng của UNESCO.

Liên hiệp các Hội UNESCO Việt Nam cũng như các Hiệp hội UNESCO trên toàn thế giới cam kết với UNESCO và Hiệp hội UNESCO Thế giới về việc nghiêm cấm hội viên, các tổ chức thành viên của mình sử dụng biểu tượng của UNESCO và biểu tượng của Hiệp hội UNESCO Thế giới phục vụ cho các mục đích thương mại, hoặc phục vụ các mục đích cá nhân dưới bất cứ hình thức và hoàn cảnh nào.

Theo quy định của UNESCO, việc sử dụng biểu tượng của UNESCO phải được sự nhất trí của Uỷ ban Quốc gia UNESCO. Do đó khi các đơn vị thành viên của Liên hiệp các Hội UNESCO Việt Nam muốn được sử dụng biểu tượng của UNESCO phục vụ cho các hoạt động của mình thì bắt buộc phải có đơn gửi Liên hiệp, trình bày rõ yêu cầu và tính chất của hoạt động để Ban Thư ký Hiệp hội có căn cứ xin phép Uỷ ban Quốc gia UNESCO Việt Nam về việc sử dụng biểu tượng UNESCO.

Lịch sử ra đời của Liên hiệp các Hội UNESCO Việt Nam

Việt Nam trở thành thành viên của UNESCO từ thời Chính quyền Bảo Đại (1951). Sau ngày đất nước thống nhất, Chính phủ Việt Nam lần lượt thay chân chính quyền Sài Gòn cũ tại Liên Hợp Quốc và các tổ chức chuyên môn của Liên Hợp Quốc, trong đó có UNESCO (1976).

Năm 1981 Ngài Amadou Mahtar M’Bow, Tổng Giám đốc UNESCO đã gửi thư tới Thủ tướng Phạm Văn Đồng giới thiệu về hệ thống Câu lạc bộ UNESCO trên thế giới và gợi ý Việt Nam nên có mạng lưới UNESCO phi chính phủ tại Việt Nam để thu hút cộng đồng tham gia đóng góp vào các hoạt động UNESCO tại Việt Nam.

Năm 1986 Tổng Giám đốc UNESCO một lần nữa khuyến nghị Chính phủ Việt Nam xem xét hình thức hoạt động UNESCO phi chính phủ đã trở thành thông lệ tại các quốc gia thành viên UNESCO là có Hiệp hội UNESCO tại nước mình để góp phần mở rộng các hoạt động UNESCO trong nhân dân vì mục đích hoà bình và phát triển.

Tháng 3-1993, trong chuyến thăm Việt Nam của Ngài Federico Mayor, Tổng Giám đốc UNESCO, Phó Thủ tướng Nguyễn Khánh thay mặt Chính phủ Việt Nam và Ngài Mayor đã ký bản ghi nhớ, trong đó có nêu việc Chính phủ Việt Nam sẽ xem xét tích cực việc thành lập Hiệp hội UNESCO Việt Nam. Tiếp đó Uỷ ban Quốc gia UNESCO Việt Nam và Bộ Ngoại giao Việt Nam đã góp phần cùng các sáng lập viên tích cực chuẩn bị cho việc ra đời một mạng lưới UNESCO phi chính phủ tại Việt Nam sẽ mang tên là Hiệp hội Câu lạc bộ UNESCO Việt Nam.

Ngày 3-8-1993 Thủ tướng Chính phủ nước Cộng hoà Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam đã ký quyết định số 397/TTg cho phép thành lập Hiệp hội Câu lạc bộ UNESCO Việt Nam.

Ngày 6-10-1993 Đại hội Toàn quốc lần thứ Nhất, đồng thời là Đại hội Sáng lập Hiệp hội Câu lạc bộ UNESCO Việt Nam đã được triệu tập tại Thủ đô Hà Nội, với sự tham gia của khoảng 150 sáng lập viên cá nhân và tập thể bao gồm các cơ quan nghiên cứu khoa học, các đơn vị hoạt động nghệ thuật, các nhà khoa học, nghệ sĩ, nhà giáo, các nhà hoạt động xã hội Việt Nam đã tham dự Đại hội. Điều lệ của Hiệp hội Câu lạc bộ UNESCO Việt Nam và cương lĩnh hoạt động của Hiệp hội đã được toàn thể Đại hội thông qua bằng sự nhất trí đồng thuận. Đại hội đã bầu ra một Ban Châp hành gồm 21 uỷ viên do KTS Nguyễn Trực Luyện làm Chủ tịch. Ban Chấp hành đã bầu ra một Thường vụ Ban Chấp hành với 5 uỷ viên và bổ nhiệm GSTS Phạm Huyễn làm Tổng Thư ký.

Ngày 16-12-1993 Ban Tổ chức Cán bộ của Chính phủ (nay là Bộ Nội vụ) đã thay mặt Chính phủ phê chuẩn Điều lệ của Hiệp hội (Quyết định số 1174/TCCP-TC). Tiếp đến Bộ Ngoại giao đã thay mặt Chính phủ ViệtNam chính thức thông báo với UNESCO việc ra đời Hiệp hội Câu lạc bộ UNESCO Việt Nam.

Chức năng và nhiệm vụ

Nhiệm vụ và tính chất của Liên hiệp các Hội UNESCO Việt Nam

Điều lệ của Liên hiệp các Hội UNESCO Việt Nam (Điều 2) quy định:

- "Hiệp hội Câu lạc bộ UNESCO Việt Nam là một tổ chức xã hội, phi chính phủ, không vụ lợi , tập hợp rộng rãi các Câu lạc bộ UNESCO trên phạm vi quốc gia và các công dân Việt Nam tự nguyện tham gia, đóng góp vào các hoạt động vì các mục tiêu, lý tưởng của UNESCO đã được ghi nhận trong Công ước thành lập UNESCO"
- "Hiệp hội Câu lạc bộ UNESCO Việt Nam có nhiệm vụ thúc đẩy việc truyền bá các mục tiêu, chương trình hoạt động của UNESCO, thông tin kiến thức về khoa học, giáo dục, văn hoá và thông tin - là những lĩnh vực hoạt động của UNESCO, thông qua đó góp phần nâng cao dân trí, phát triển đất nước, tăng cường hữu nghị và hợp tác giữa các dân tộc, các quốc gia, bảo vệ hoà bình và an ninh thế giới"

Nhiệm vụ chính của Hiệp hội gồm:

  1. Trong phạm vi các hoạt động UNESCO phi chính phủ ở Việt Nam, tập hợp những người, tập thể có ý thức quan tâm đến sự nghiệp phát triển khoa học, giáo dục, văn hoá, thông tin và tri thức của đất nước.
  2. Phổ biến, thông tin và xuất bản, giúp các hội viên và mọi người nâng cao hiểu biết về các lĩnh vực chuyên môn thuộc thẩm quyền của UNESCO nhằm làm cho mọi người nâng cao khả năng lao động, sáng tạo, đóng góp thiết thực vào công cuộc xây dựng đất nước.
  3. Góp phần giáo dục truyền thống văn hoá của dân tộc và của các dân tộc khác trên thế giới ; nâng cao sự hiểu biết quốc tế và kiến thức chung về các vấn đề toàn cầu, trên cơ sở đó giáo dục ý thức công dân về các vấn đề bảo vệ hoà bình, an ninh, phát triển, bảo vệ môi trường, sinh thái và tài nguyên thiên nhiên...
  4. Điều phối hoạt động và cung cấp thông tin, xuất bản phẩm cho các Câu lạc bộ cơ sở. Tổ chức, duy trì và phát triển mối quan hệ và sự hợp tác thường xuyên với các cơ quan Nhà nước, các tổ chức đoàn thể xã hội và các cá nhân có liên quan đến hoạt động của Hiệp hội; với các Câu lạc bộ UNESCO của các nước và các tổ chức phi chính phủ có liên quan tới UNESCO để mở rộng hợp tác, trao đổi thông tin, kinh nghiệm và tranh thủ sự giúp đỡ cho các hoạt động của Hiệp hội và các Câu lạc bộ UNESCO.
  5. Phối hợp với Ban Thư ký Uỷ ban Quốc gia UNESCO Việt Nam để tổ chức thực hiện các chương trình của Uỷ ban Quốc gia UNESCO Việt Nam.

Publish modules to the "offcanvas" position.