Trung tâm UNESCO Văn hóa Giáo dục và Đào tạo

Switch to desktop

Xe buýt và tôi - Tạ Thị Hiền

Xe buýt, một phương tiện công cộng nhưng chỉ thực sự hữu dụng với đại bộ phận học sinh- sinh viên, còn người lao động, người đi làm lại chiếm một phần rất nhỏ người tham gia sử dụng phương tiện này. Tại các thành phố lớn người dân hầu như cũng không có sử dụng phương tiện công cộng phải chăng bởi sự bất tiện , không phổ biến của nó.

Sự đô thị hóa nhanh cùng nhịp sống sôi động, các mặt hàng về ô-tô, xe máy với nhiều chủng loại, mẫu mã đẹp thu hút thị hiếu của người dùng. Họ mong muốn sẽ sở hữu cho riêng mình một hoặc có thể hơn một chiếc xe đẹp, thời trang và phong cách đặc biệt là giới trẻ.

Nước ta chủ yếu là các loại xe gắn máy chúng đóng góp không nhỏ trong hoạt động lao động ,sản xuất, và thực sự cần thiết trong việc đi lại , vận chuyển hàng hóa, buôn bán. Hơn nữa xuất phát điểm là từ một nước nông nghiệp đi nên, kinh tế hộ gia đình là chủ yếu. Vì  xe máy là phương tiện phù hợp với các tiêu chí về kinh tế , nhu cầu đi lại, làm việc, rất thuận tiện giúp họ các thể chủ động hơn so với các phương tiện giao thông khác nên muốn giảm được lượng tham gia giao thông bằng xe cá nhân cũng rất khó.

Sự phát triển cơ sở, hệ thống giao thông bất hợp lý không đồng bộ là nguyên nhân ảnh hưởng lớn tới việc phát triển các phương tiện giao thông công cộng trong đó có xe buýt:

•Mặt cơ sở :  đường xá chưa được mở rộng  đồng bộ , đặc biệt là các tuyến đường quan trọng. Hiện tượng xâm lấn lòng đường từ các công trình xây dựng, kinh doanh buôn bán của người dân, quản lý chưa có hiệu quả của các cơ quan điều hành và làm việc trực tiếp trên các con đường gây cản trở tới sự lưu thông của các  phương tiện tham gia giao thông. Xây dựng đường cũng chưa hợp lý.  Chưa có nơi làm bãi đỗ xe thích hợp. Làn đường quy định riêng cho xe buýt chưa được áp dụng đồng bộ. Nhà nước chưa thực sự chú trọng phát triển hệ thống giao thông công cộng, chưa đầu tư phát triển hệ thống đồng bộ cùng các phương tiện công cộng khác như xe điện , tầu điện ngầm, xe buýt trong các thành phố lớn như Hà Nội, thành phố Hồ Chí Minh khi đất nước đang trong tiến trình phát triển, chất lượng cuộc sống- xã hội càng tăng cao.  

•Hệ thống giao thông bất hợp lý: tín hiệu giao thông không được áp dụng liên mạch, điều phối giao thông đặc biệt tại các ngã tư, nơi có nhiều làn đường không hợp lý.

•Luật giao thông chưa được thực hiện hợp lý ,chặt chẽ, khoa học: mức độ xử lý các vi phạm còn thấp , không có tính dăn đe; công tác quản lý  không kiểm soát được các phương tiện vi phạm luật, cách thức làm việc không khoa học trong thực hiện và áp dụng luật, áp dụng khoa học – kỹ thuật chưa được phổ biến; xe buýt cần được thành phương tiện ưu tiên, có làn đường riêng, hoạt động thông suốt

Truyền thông chưa phát huy tính năng tuyên truyền, vận động phát huy khả năng ảnh hưởng trực tiếp đến sự nhận thức , cách nhìn khách quan đến người dân về lợi ích, sự tiện lợi, và vai trò bảo vệ môi trường- sức khỏe. 

Nhắc tới xe buýt, gắn liền với  nó là việc đi bộ, sự chật chội khi dùng xe buýt. So sánh giữa hệ thống giao thông với các nước đang phát triển trong khu vực sẽ thấy, Việt Nam có hệ thống giao thông khá phức tạp, người nước ngoài đến với Việt Nam đã cần có một khoảng thời gian để thích nghi với nó , có quá nhiều phương tiện cá nhân, ngoài ra không khí bẩn có quá nhiều khói bụi là nguyên nhân người tham gia giao thông không thích đi bộ, dùng xe buýt cũng như các phương tiện giao thông công cộng khác. Chúng luôn khiến họ phải chờ đợi trong môi trường đầy nguy hại, phải chen lấn trên xe buýt. Họ muốn đi một cách nhanh chóng để thoát khỏi tình trạng đó và xe cá nhân là lựa chọn tốt nhất, thuận tiện , dễ lưu động.

Giá cả cũng rất quan trọng có ảnh hưởng trực tiếp tới người sử dụng. Với một mức chi phí hợp lý cùng dịch vụ xe có chất lượng sẽ thu hút được sự chú ý của người dân. Mức phí đi xe vẫn tiếp tục tăng chưa được sự hỗ trợ , khuyến khích từ phía Nhà nước , điều này thực sự gây lên những trở ngại cho người dùng trong khi dịch vụ, xe vẫn chưa được cải thiện., 

Thực trạng xe buýt hiện nay cũ về trang thiết bị : đèn , quạt, điều hòa, hệ thống thông báo điểm dừng. Xe cũ, kích thước  không phù hợp với tuyến đường , thiết kế xe không hợp lý giúp tăng không gian bên trong xe.  Mật độ xe chưa đảm bảo trên các tuyến đường. Thái độ phục vụ của nhân viên với hành khách cũng như kỹ thuật lái xe của lái xe cũng nên được nâng cao.

•Điều quan trọng không kém là sự phân tuyến lộ trình đi phải hợp lý, nhiều người khi tham gia giao thông không thể xác định được rằng mình muốn đến nơi nào đó sẽ phải đi tuyến xe nào, đi nhầm tuyến xe là điều không xa lạ khi gặp người ít đi xe buýt.

•Xe buýt nên có sự phân biệt giữa tuyến xe chính và tuyến xe chỉ đi qua trên các tuyến đường, lộ trình có nên ngắn lại để đảm bảo tính liên tục của xe buýt trên các tuyến đường?.

•Điển đặt bến đỗ và chung chuyển: nên đặt ở nơi đầu  và cuối con phố/ đường nơi giao cắt giữa các phố/đường để thuận tiện chung chuyển, đón khách. Xác định được nơi đông dân cư, các cơ quan- xí nghiệp, trường học để đặt trạm xe buýt, phục vụ nhu cầu đi lại tốt hơn.

Ngoài ra, để có được sự ủng hỗ của người dân trong việc phát triển giao thông công cộng/xe buýt nói riêng cần có sự chung tay của Nhà nước , các cấp ngành, truyền thông và người dân trong xã hội

•Ưu tiên phát triển, mở rộng một cách có hệ thống đường xá , tận dụng mọi diện tích để mở rộng và sử dụng trong đó có sự ưu tiên cho phương tiện giao thông công cộng. Kìm hãm sự phát triển các phương tiện cá nhân trong việc cấp bằng lái xe, mua bán, quản lý, hoạt động trên đường. Các ngầm cầu, bồn hoa, bồn cảnh sẽ được  tận dụng mở rộng làn đường hoặc làm bãi đỗ xe ô-tô. Giảm sự xâm lấn làn đường, cản trở giao thông. Có ít nhất 4 làn đường, trong đó có đường riêng cho xe buýt và phương tiện ưu tiên hoạt động.

•Bảo vệ môi trường: xe  vào thành phố phải được  kiểm soát hoạt động trong khung giờ riêng, xe phải được che chắn tốt , tránh làm bẩn tuyến đường, hạn chế thấp nhất gây bụi, tất cả các xe vào thành phố phải được rửa trước khi vào thành phố.(nhà rửa xe tự động, có thể miện phí ) giúp người dùng các phương tiện công cộng thấy thoải mái hơn với không khí trong sạch, đi bộ cũng không thành vấn đề đáng ngại.

•Trợ giá hoặc miễn phí cho các phương tiện công cộng nhằm khuyến khích người dân sử dụng phương tiện giao thông công cộng cùng với truyền thông để thay đổi dần nhận thức người dân.

•Áp dụng khoa học –kỹ thuật trong điều hòa, vận hành , kiểm soát các phương tiện trên các tuyến đường, sử dụng nhiên liệu sinh học thay cho nhiên liệu truyền thống, 

•Quan tâm hơn trong vấn đề luật giao thông, tín hiệu giao thông cần được hoạt động liên mạch đặc biệt tại các ngã tư , nút giao thông quan trọng

•Xử lý vi phạm nghiêm khắc hơn, đủ sức răn đe , giảm thiểu nạn ách tách giao thông, trách tác động tới sự lưu thông của các phương tiện khác

•Phát động các phong trào bảo vệ môi trường có sự đề cao vai trò của xe buýt- phương tiện giao thông công cộng khác, tuyên truyền thông tin đại chúng để người dân tham gia cũng như hiểu được lợi ích kinh tế, về môi trường, sức khỏe và xã hội

•Sự đô thị hóa chưa đồng bộ , mở rộng thành phố như Hà Nội về khu vực ven đô và  Hà Tây cũ còn đang xây dựng cơ sở, nhiều khu vực dân cư còn sống theo làng, xóm, đường xá chưa phát triển như trong thành phố nhưng nhu cầu đi lại vào thành phố rất lớn. Vì vậy nên có các tuyến xe, điểm đặt trạm xe buýt xunh quanh giúp người dân thuận tiện hơn trong việc bắt xe. Tránh hiện tượng người tham gia muốn dùng xe buýt nhưng vì quá xa, nơi các tuyến đường chính mới có xe buýt để đi dẫn đến tâm lý chán nản không muốn sử dụng.

•Nhân viên: lái xe phải an toàn, giao tiếp thân thiện với hành khách, nhiệt tình chỉ dẫn

•Xe buýt phải đảm bảo an toàn, chất lượng, thường xuyên được bảo dưỡng nâng cấp. Thiết kế cần được  thay đổi để phù hợp với mục đích sử dụng, tăng chỗ ngồi, không gian cho  hành khách đem lại cảm giác thoải mái.

Tạ Thị Hiền
Mễ Trì thượng, Hà Nội